Sức khỏe là "mùa Xuân" của đời người

Thứ Tư, 25/01/2017, 11:09 (GMT+7)

Xuân 2017 - Ngành Y tế Hà Giang thời gian qua đã không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu hết sức cơ bản trên tất cả các lĩnh vực. Ngành luôn làm tốt vai trò tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác y tế trên địa bàn; quản lý và chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công tác y tế trên địa bàn tỉnh theo phân cấp. Luôn đổi mới phương thức lãnh đạo, cải tiến lề lối làm việc là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, trong đó tập trung đổi mới công tác tham mưu, quy trình xây dựng nghị quyết, nội dung cụ thể, sát với tình hình địa phương; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành; tăng cường công tác lãnh, chỉ đạo toàn diện và hiệu quả đối với tuyến y tế sơ sở... Hệ thống y tế ở địa phương từ tỉnh đến huyện, xã ngày càng được củng cố và hoàn thiện; định hướng tập trung đầu tư và phát triển các bệnh viện, trung tâm chuyên sâu theo quy hoạch phát triển của ngành và phù hợp với địa phương.

Người bệnh được điều trị tại BV Lao và bệnh phổi tỉnh.
Người bệnh được điều trị tại BV Lao và bệnh phổi tỉnh.

Giai đoạn từ năm 2011 - 2015, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân của tỉnh tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Phần lớn các chỉ tiêu tổng quát về sức khoẻ đã có phần cải thiện một cách đáng kể; các bệnh dịch nguy hiểm đã được phát hiện kịp thời, khống chế, đẩy lùi và không để lan rộng; từng bước hạn chế được sự xuống cấp các cơ sở y tế, cải thiện được phần lớn tình trạng thiếu hụt giường bệnh; nhiều kỹ thuật, công nghệ mới, hiện đại đã được ứng dụng thành công; chất lượng cung ứng các dịch vụ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ ngày càng được nâng cao; chính sách bảo hiểm y tế được thực hiện tốt hơn. Mức độ thụ hưởng các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe của nhân dân đã được cải thiện; tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên; tỷ lệ mắc một số bệnh truyền nhiễm giảm. Cũng trong giai đoạn này, ngành Y tế đã giám sát và phát hiện kịp thời, không để dịch xảy ra; thực hiện có hiệu quả Đề án giảm quá tải nhờ nỗ lực tập trung, huy động các nguồn vốn đầu tư, hoàn thiện cơ sở vật chất, đẩy mạnh thực hiện Đề án Bệnh viện vệ tinh, chuyển giao kỹ thuật, tăng cường luân phiên cán bộ tuyến trên xuống tuyến dưới để nâng cao chất lượng, trình độ tuyến dưới, giảm tỷ lệ chuyển tuyến trên; tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt cao (96,2%), vượt chỉ tiêu giao; các cơ sở khám, chữa bệnh đã làm tốt việc đổi mới phong cách, thái độ phục vụ, lấy người bệnh làm trung tâm hướng tới sự hài lòng của người bệnh được toàn ngành hưởng ứng và đồng tâm thực hiện, đã có kết quả bước đầu, được nhân dân ủng hộ; đẩy mạnh ứng dụng được một số kỹ thuật cao, kỹ thuật mới trong khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ; từng bước hoàn thiện và đồng bộ hệ thống tổ chức y tế tại tuyến xã, tuyến huyện, tuyến tỉnh để góp phần hội nhập và phát triển; thực hiện khá tốt các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế...

Cho trẻ uống Vitamin A tại xã Phương Độ, thành phố Hà Giang.
Cho trẻ uống Vitamin A tại xã Phương Độ, thành phố Hà Giang.

Mạng lưới y tế dự phòng thường xuyên được củng cố và kiện toàn. Các hoạt động được tăng cường, phát hiện và giám sát, xử lý kịp thời, đáp ứng với các vấn đề sức khỏe liên quan đến thiên tai, thảm họa... Cơ sở hạ tầng, nhân lực, phương tiện, ngân sách được tăng cường; năng lực dự báo, giám sát và phòng, chống dịch bệnh được nâng lên (trong 5 năm qua đã ngăn chặn và khống chế được nhiều dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, không có dịch bệnh lớn xảy ra, kiểm soát không để xâm nhập các dịch, bệnh mới nổi như Ebola, MERS-CoV, H7N9,...; duy trì được tỷ lệ TCMR đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đạt trên 90%. Đã thanh toán được bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh và duy trì đến nay, thanh toán bệnh phong ở cấp tỉnh. Tình hình mắc và tử vong của các bệnh truyền nhiễm gây dịch hầu hết đều giảm qua các năm. Trong 5 năm qua không có trường hợp nào mắc và tử vong do sốt xuất huyết. Đối với bệnh tay chân miệng, tỷ lệ mắc/100.000 dân giảm xuống còn 33,7 và không có trường hợp nào tử vong (năm 2015). Từ năm 2011 đến năm 2015, toàn tỉnh không ghi nhận trường hợp nào mắc cúm A (H5N1). Công tác dự phòng và kiểm soát các bệnh không lây nhiễm đã từng bước được triển khai có hiệu quả. Từ năm 2011 - 2015 thông qua các dự án thuộc chương trình mục tiêu Quốc gia đã tổ chức khám sàng lọc, phát hiện và quản lý điều trị cho khoảng trên 2.000 người tăng huyết áp, trên 1.500 người tiền đái tháo đường và đái tháo đường; có trên 15% số xã thực hiện việc quản lý tăng huyết áp. Ngành Y tế đã phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tăng cường triển khai thực hiện công tác bảo vệ, giáo dục và chăm sóc sức khỏe trẻ em, học sinh, sinh viên trong các trường học của tỉnh. Tăng cường quản lý môi trường y tế, việc xử lý chất thải y tế đã có những tiến bộ, có 7/16 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn. Về xử lý chất thải rắn y tế, hiện 100% bệnh viện đã thực hiện phân loại, thu gom chất thải rắn y tế nguy hại hàng ngày, trong đó 10/16 bệnh viện đang sử dụng lò đốt hai buồng hoặc công nghệ vi sóng hoặc nhiệt ướt khử khuẩn chất thải rắn y tế nguy hại, còn lại xử lý bằng lò đốt một buồng, thiêu đốt thủ công. Mạng lưới khám, chữa bệnh (KCB) được mở rộng và củng cố, số giường bệnh viện năm 2015 đạt mức 28 giường/10.000 dân. Các cơ sở y tế dần được củng cố về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, đào tạo, nhiều kỹ thuật tiên tiến được triển khai. Sau hơn 5 năm thực hiện Đề án 1816, cơ bản giảm tình trạng quá tải tại các bệnh viện tuyến tỉnh. Mạng lưới cơ sở cung ứng dịch vụ Y dược học cổ truyền (YDHCT) đã được củng cố và kiện toàn. Năm 2015, tỷ lệ người bệnh khám, chữa bệnh y học cổ truyền (YHCT) ở các tuyến là 13,8%; tỷ lệ điều trị nội trú bằng YHCT hoặc kết hợp YHCT với y học hiện đại là 26,3%. Nhận thức, thái độ, hành vi về dân số - KHHGĐ và chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) của nhân dân đã có chuyền biến tích cực. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên giảm xuống còn 1,63%; tỷ suất sinh thô giảm còn 21,69%0 (năm 2015); tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm còn 16,0% (năm 2015); tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp tránh thai đạt 68,01% (năm 2015); dịch vụ làm mẹ an toàn được thực hiện rộng rãi, số trường hợp phá thai giảm, dịch vụ phá thai an toàn dần mở rộng.

Người bệnh được chăm sóc và điều trị tại BVĐK tỉnh.
Người bệnh được chăm sóc và điều trị tại BVĐK tỉnh.

Từ năm 2010, ngành Y tế đã tiếp tục triển khai đồng bộ và thực hiện các hoạt động để phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực y tế với số lượng cán bộ y tế đã tăng lên đáng kể, chất lượng nhân lực y tế được cải thiện, nhiều loại hình cán bộ y tế mới được bổ sung. Hàng năm, số lượng cán bộ được đào tạo nâng cao trình độ ở bậc sau đại học tăng lên; công tác đào tạo và đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế được triển khai với nhiều loại hình đa dạng. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và áp dụng nhiều sáng kiến trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật được tăng cường, thực hiện được nhiều kỹ thuật hiện đại; hệ thống y tế tư nhân đang từng bước phát triển nên tạo một sức ép khá lớn về nhu cầu cán bộ y tế...

Với mục tiêu xây dựng và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng hiện đại, tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao và đảm bảo sự công bằng trong khám, chữa bệnh; giảm tỷ lệ mắc bệnh tật và tử vong, nâng cao sức khoẻ, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng cuộc sống và giống nòi, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước... trong giai đoạn 2016 – 2020, ngành Y tế phấn đấu đạt 11,2 bác sĩ/10.000 dân; đạt 1,8 dược sĩ đại học/10.000 dân; duy trì 100% Phòng khám ĐKKV/Trạm y tế tuyến xã có bác sĩ (bao gồm thường trú, tăng cường luân phiên và phụ trách); trên 97,0% thôn bản có nhân viên YTTB hoạt động; 100% số xã đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 - 2020; tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ vắc xin phòng bệnh cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt trên 96,0%; tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi (cân nặng/tuổi) còn 18% năm 2020; tỷ lệ tối đa mắc ngộ độc thực phẩm dưới 10 người/100.000 dân; tỷ lệ tử vong/mắc do ngộ độc thực phẩm là dưới 5%; mức giảm sinh trung bình mỗi năm là 0,5%o; giảm tỷ suất sinh thô còn 19,5% (năm 2020); hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,40% (năm 2020); giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 xuống dưới 10,5% (năm 2020); giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi xuống dưới 24%o; giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi xuống dưới 45%o vào năm 2020; tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại trên 75%. Khống chế tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư dưới 0,25%; tỷ lệ giường bệnh viện công lập đến năm 2020 đạt 36 giường/10.000 dân; số lần KCB bình quân đạt từ 1,2 - 1,5 lần/người/năm; công suất sử dụng giường bệnh đạt 90 - 96%; chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng được triển khai và duy trì với độ bao phủ trên 60% số thôn bản. Đảm bảo 100% thuốc chữa bệnh đạt tiêu chuẩn chất lượng; tỷ lệ sử dụng thuốc nam trong KCB đạt trên 35% (tuyến tỉnh), trên 40% (tuyến huyện) và trên 45% (tuyến xã)...

NGỌC QUỲNH

.
.
.
.
.
.