Chuyển đổi số: Cần sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp và vai trò trách nhiệm của người đứng đầu.

Thứ Ba, 19/10/2021, 12:50 (GMT+7)

BHG - Lịch sử nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng, bao gồm: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất bắt đầu vào khoảng năm 1784, với đặc trưng là việc sử dụng năng lượng nước, hơi nước và cơ giới hóa sản xuất; Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra từ khoảng năm 1870 đến khi Thế Chiến I nổ ra, với đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp lần này là việc sử dụng năng lượng điện và sự ra đời của các dây chuyền sản xuất hàng loạt trên quy mô lớn; Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba xuất hiện vào khoảng từ 1969. Và với sự ra đời, lan tỏa của công nghệ thông tin, điện tử và tự động hóa sản xuất, thế giới đang bước vào cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 (Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư).

Bí thư Tỉnh ủy Đặng Quốc Khánh phát biểu quán triệt và trình bày bài giảng về vai trò lãnh đạo và giải pháp, nhiệm vụ đổi mới chương trình chuyển đổi số
Bí thư Tỉnh ủy Đặng Quốc Khánh phát biểu về vai trò lãnh đạo và giải pháp, nhiệm vụ chương trình chuyển đổi số

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, công nghệ số và sinh học, tạo ra những khả năng sản xuất hoàn toàn mới và có tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới. Có thể khái quát bốn đặc trưng chính của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Một là, dựa trên nền tảng của sự kết hợp công nghệ cảm biến mới, phân tích dữ liệu lớn, điện toán đám mây và kết nối internet vạn vật sẽ thúc đẩy sự phát triển của máy móc tự động hóa và hệ thống sản xuất thông minh. Hai là, sử dụng công nghệ in 3D để sản xuất sản phẩm một cách hoàn chỉnh nhờ nhất thể hóa các dây chuyền sản xuất không phải qua giai đoạn lắp ráp các thiết bị phụ trợ - công nghệ này cũng cho phép con người có thể in ra sản phẩm mới bằng những phương pháp phi truyền thống, bỏ qua các khâu trung gian và giảm chi phí sản xuất nhiều nhất có thể. Ba là, công nghệ nano và vật liệu mới tạo ra các cấu trúc vật liệu mới ứng dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực. Bốn là, trí tuệ nhân tạo và điều khiển học cho phép con người kiểm soát từ xa, không giới hạn về không gian, thời gian, tương tác nhanh hơn và chính xác hơn.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân; đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội đất nước.

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nghiên cứu nắm bắt, nâng cao năng lực tiếp cận và chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; xây dựng và triển khai thực hiện một số chính sách nhằm thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử-viễn thông.

Cơ sở hạ tầng viễn thông được xây dựng khá đồng bộ. Kinh tế số được hình thành, phát triển nhanh, ngày càng trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế; công nghệ số được áp dụng trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; xuất hiện ngày càng nhiều hình thức kinh doanh, dịch vụ mới, xuyên quốc gia, dựa trên nền tảng công nghệ số và Internet đang tạo nhiều cơ hội việc làm, thu nhập, tiện ích, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Việc xây dựng chính phủ điện tử, tiến tới chính phủ số được triển khai quyết liệt, bước đầu đạt được nhiều kết quả tích cực.

Tuy vậy, mức độ chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta còn thấp. Thể chế, chính sách còn nhiều hạn chế và bất cập. Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực phát triển kinh tế-xã hội. Quá trình Chuyển đổi số quốc gia còn chậm, thiếu chủ động do hạ tầng phục vụ quá trình Chuyển đổi số còn nhiều hạn chế. Việc đấu tranh với tội phạm, bảo đảm an ninh mạng còn nhiều thách thức.

Nguyên nhân của những hạn chế trên chủ yếu đến từ nhận thức về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong hệ thống chính trị và toàn xã hội còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa thống nhất. Khả năng phân tích, dự báo chiến lược về xu thế phát triển khoa học, công nghệ tác động đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước còn hạn chế.

Tư duy trong xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế phù hợp với yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư chậm được đổi mới, sức ỳ còn lớn. Quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, chưa theo kịp diễn biến thực tế. Sự phối hợp giữa các ban, bộ, ngành, giữa Trung ương với các địa phương chưa chặt chẽ; nhiều khó khăn, vướng mắc chậm được tháo gỡ.

Vì những lý do đó, ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với mục tiêu tổng quát là “Tận dụng có hiệu quả các cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại để thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hoá đất nước; phát triển mạnh mẽ kinh tế số; phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi của người dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái”.

Căn cứ các quan điểm, mục tiêu, chủ trương và chính sách tại Nghị quyết số 52-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 50/NQ-CP, ngày 17/4/2020 về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03/6/2020 về phê duyệt “chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Đặc biệt, Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2020-2025 xác định: Đến năm 2025, kinh tế số đạt khoảng 20% GDP. Định hướng giai đoạn 2021-2030, Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, gắn kết hài hòa, hiệu quả thị trường trong nước và quốc tế.

Chương trình Chuyển đổi số của tỉnh Hà Giang

Trong những năm qua, Hà Giang đã tập trung lãnh chỉ đạo xây dựng Chính quyền điện tử và đạt được kết quả nổi bật. Mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin của tỉnh (ICT Index) ở mức khá so với các tỉnh/thành phố trên toàn quốc; Tỷ lệ UBND cấp huyện, cấp xã có điểm cầu trực tuyến đạt 100%. Kết quả ứng dụng công nghệ thông tin đã góp phần hoàn thiện chính quyền điện tử, hướng tới chính quyền số.

Kinh tế số bước đầu hình thành trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, nông nghiệp, y tế, du lịch và dịch vụ với nhiều hình thức kinh doanh mới, dựa trên thương mại điện tử và logistics, góp phần nâng cao tính minh bạch, nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI), thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân.

Hạ tầng xã hội số có bước phát triển: 100% các xã đã có cáp quang đến trung tâm; Số trạm thu phát sóng (BTS) đạt 2.418 trạm (783 trạm 2G, 932 trạm 3G, 703 trạm 4G); Tỷ lệ xã, phường thị trấn có mạng Internet băng rộng đạt 98%, riêng khu vực trung tâm xã, khu vực tập trung đông dân cư đạt 100%; Tỷ lệ phủ sóng điện thoại di động đạt 98,6%; Người dân đã chủ động tham gia vào các loại hình dịch vụ của xã hội số, từng bước hình thành văn hóa trên môi trường số.

Tuy nhiên, quá trình Chuyển đổi số của tỉnh còn bộc lộ một số hạn chế như: việc xây dựng nền tảng chính quyền điện tử chậm hoàn thiện. Một số ngành, lĩnh vực chưa chủ động tham gia Chuyển đổi số; việc kết nối, chia sẻ tích hợp dữ liệu giữa các cơ quan còn hạn chế, nhất là ứng dụng Công nghệ thông tin trong các cơ quan khối Đảng, đoàn thể của tỉnh; số lượng hồ sơ trực tuyến còn thấp; quản lý thông tin trên không gian mạng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh. Tài nguyên dữ liệu số chưa được khai thác hiệu quả, nhất là phân tích thông minh phục vụ chỉ đạo, điều hành; nhiều doanh nghiệp của tỉnh còn chưa chủ động tiếp cận ứng dụng, phát triển công nghệ hiện đại; quy mô kinh tế số còn nhỏ; thương mại điện tử ở mức thấp.

Nguyên nhân của những hạn chế trên đến từ nhận thức về chuyển đổi số của cán bộ, công chức, viên chức, doanh nghiệp, người dân và các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị chưa đầy đủ và còn nhiều hạn chế; nguồn lực dành cho đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử và thực hiện chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; công tác quản lý nhà nước về chuyển đổi số chưa theo kịp thực tiễn; sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp chưa thật sự chặt chẽ.

Chương trình số 08-CTr/TU, ngày 02/8/2021 của Tỉnh ủy Hà Giang về Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định: “Thực hiện tái cấu trúc hạ tầng công nghệ thông tin theo hướng đồng bộ, tập trung, thống nhất, liên thông, tích hợp đa ngành, đa lĩnh vực gắn với cơ chế kiểm soát từng cấp. Tiếp tục duy trì và phát triển hoàn thiện hệ thống thông tin cơ sở có ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thông, internet. Trọng tâm là đẩy mạnh chương trình hợp tác với tập đoàn FPT và các tổng công ty công nghệ để thực hiện thành công các nhiệm vụ chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh, nhằm chủ động tiếp cận công nghiệp lần thứ tư; trong đó chuyển đổi số tổng thể và toàn diện từ cơ quan nhà nước, đến người dân, doanh nghiệp về cách sống, cách làm việc, phương thức sản xuất và tiêu thụ dựa trên công nghệ số; sử dụng triệt để chữ ký số và giải quyết công việc trên môi trường mạng; đồng thời phát triển nền tảng số phục vụ kết nối liên thông đa chiều, tích hợp, chia sẻ dữ liệu với hệ thống báo cáo của Trung ương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh; triển khai hệ thống giám sát, cảnh báo nguy cơ, điều phối ứng cứu sự cố mất an toàn, an ninh mạng cho cơ quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh, phấn đầu hoàn thiện chính quyền điện tử, đưa tỉnh Hà Giang sớm trở thành mộ trong những tỉnh nằm trong tốp đầu cả nước về chuyển đổi số với ba trụ cột: Chính quyền số - Kinh tế số - Xã hội số”.

Dựa trên những quan điểm, mục tiêu, chủ trương và chính sách về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng như điều kiện thực tế của Đảng bộ tỉnh Hà Giang, Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã thống nhất, có chủ trương giao Ban Cán sự UBND tỉnh chủ trì xây dựng Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về Chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Hà Giang đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 với quan điểm:

Chuyển đổi số là giải pháp nền tảng, là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong lãnh đạo của các cấp ủy đảng, trong toàn bộ hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu phát triển của tỉnh.

Chuyển đổi số cần thực hiện trên cả ba trụ cột: chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Trong đó cần tập trung thúc đẩy thực hiện xây dựng Chính quyền số để tạo đà và định hướng, dẫn dắt, quản lý, hỗ trợ kinh tế số và xã hội số phát triển. Chuyển đổi số để góp phần thực hiện thắng lợi ba giải pháp đột phá Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, thay đổi tổng thể và toàn diện tổ chức, cá nhân về cách sống, cách làm việc, phương thức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dựa trên công nghệ số, trọng tâm là phát triển và quản lý dữ liệu.

Chuyển đổi số gắn với phát triển đô thị thông minh và cải cách hành chính, đặt người dân, doanh nghiệp vào vị trí trung tâm, hướng tới xây dựng chính quyền kiến tạo phục vụ, mang lại tiện ích, hiệu quả cao nhất cho người dân và doanh nghiệp, góp phần nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh, chỉ số cải cách hành chính cấp tỉnh, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo của các cấp ủy đảng, hiệu lực quản lý của chính quyền các cấp và chất lượng cuộc sống của người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh và công bằng xã hội.

Đồng thời, chương trình Chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh phải đạt được mục tiêu tạo ra giá trị tăng trưởng mới trong phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng xã hội số an toàn nhân văn dựa trên các đặc thù về thiên nhiên, văn hóa, con người của tỉnh, đảm bảo an toàn an ninh mạng gắn với đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh và chủ quyền số quốc gia, góp phần đưa Hà Giang trở thành tỉnh có kinh tế - xã hội phát triển khá trong khu vực trung du miền núi phía Bắc vào năm 2030; Nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất lao động của tỉnh, phấn đấu đưa Hà Giang vào nhóm 20 tỉnh/thành phố dẫn đầu về chỉ số đánh giá Chuyển đổi số.

Vai trò và yêu cầu đối với cán bộ lãnh đạo trong Chuyển đổi số

Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện trong cách thức vận hành, tổ chức của một cơ quan, một đơn vị, một tập thể hay một bộ máy. Chính vì yêu cầu sự thay đổi nên trước hết, công tác Chuyển đổi số là việc của người lãnh đạo, người đứng đầu vì nếu người đứng đầu không dám thay đổi thì sẽ không ai dám thay đổi. Bởi vậy, trước hết, người lãnh đạo cần mạnh dạn, đi đầu trong thay đổi tư duy lãnh chỉ đạo, ứng dụng Chuyển đổi số trong lãnh, chỉ đạo và thực hiện công việc hằng ngày.

Nhà lãnh đạo Chuyển đổi số là người đứng đầu tổ chức có tầm nhìn, thiết lập được sứ mệnh cho tổ chức, có niềm tin là công nghệ, Chuyển đổi số sẽ giúp giải quyết được những vấn đề nhức nhối của tổ chức mình và kiên định với mục tiêu đề ra. Để trở thành một nhà lãnh đạo Chuyển đổi số tốt, cần phải tập trung nâng cao những nội dung sau:

Người lãnh đạo phải có tầm nhìn bao quát, sự am hiểu đối với Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và chương trình Chuyển đổi số. Tầm nhìn lãnh đạo là tầm nhìn của người lãnh đạo; đó là nhận thức về các xu thế vận động của thế giới xung quanh, của môi trường mà tổ chức hoặc thể chế của người lãnh đạo đó đang tồn tại; là sự cảm nhận về hình ảnh tương lai của thực tại khách quan, tương lai của tổ chức hoặc thể chế với những mục tiêu, mục đích có thể và cần phải đạt được; là sự xác định con đường đi tới tương lai. Vì thế, khi xác định chủ trương, mục tiêu, không được thiển cận, tầm nhìn quá ngắn mà cần có tầm nhìn xa nhưng tránh ảo tưởng. Muốn vậy, tầm nhìn phải có khả năng hiện thực hóavà không được quá trừu tượng hay mơ hồ.

Tầm nhìn của người lãnh đạo đối với chương trình Chuyển đổi số là khả năng nhận thức được vai trò quan trọng của Chuyển đổi số đối với sự phát triển của địa phương, cơ quan, đơn vị của mình. Để làm được điều đó, người lãnh đạo cần được đào tạo, bồi dưỡng để có kiến thức đủ rộng, đủ sâu về Chuyển đổi số. Tất nhiên không cần phải là một chuyên gia có kiến thức chuyên môn sâu về Chuyển đổi số mà chỉ cần nắm được nội hàm của Chuyển đổi số, cần phải biết làm gì để thúc đẩy Chuyển đổi số ở địa phương mình, phải bắt đầu từ đâu, sử dụng quyền lực, nguồn lực của mình như thế nào, biết được những mặt lợi, hại mà Chuyển đổi số có thể mang lại để có giải pháp cụ thể (như việc đối phó với tin giả, suy giảm truyền thống, văn hóa dân tộc…).

Tập trung, phát huy được sức mạnh của tập thể, sự đoàn kết trong việc thực hiện chương trình Chuyển đổi số. Người tham gia Chuyển đổi số là mọi thành viên trong cơ quan, đơn vị, tổ chức. Tuy nhiên các cá nhân này thường sẽ chia thành hai nhóm: (1) nhóm có kiến thức và tích cực trong Chuyển đổi số, sử dụng công nghệ thông tin, (2) nhóm thiếu kiến thức, kỹ năng và rụt rè, ngại sử dụng công nghệ thông tin, Chuyển đổi số. Để có thể lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thành công chương trình Chuyển đổi số, nhà lãnh đạo trước hết cần kiên định phát huy tính dân chủ, sự đoàn kết, thống nhất một lòng quyết tâm thực hiện thành công Chuyển đổi số. Bên cạnh đó, tận dụng triệt để nguồn nhân lực kỹ năng cao, đội ngũ chuyên gia có tâm huyết, đồng thời tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thiếu kiến thức về sử dụng công nghệ thông tin, Chuyển đổi số. Qua đó cùng với tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện thành công mục tiêu Chuyển đổi số một cách khoa học, khả thi nhất.

Thường xuyên kiểm tra, giám sát, để kịp thời có giải pháp điều chỉnh, tháo gỡ khó khăn. Chuyển đổi số là một lĩnh vực mới, là một cuộc cách mạng đối với Đảng bộ tỉnh Hà Giang, vì vậy người đứng đầu các cấp ủy Đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương trên toàn tỉnh cần theo dõi sát sao tiến độ triển khai, thực hiện chương trình Chuyển đổi số trong cơ quan, đơn vị, địa phương mình quản lý. Qua đó, kịp thời nắm bắt những khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện để báo cáo các cấp có thẩm quyền xem xét, cho chủ trương hỗ trợ, giúp đỡ, đề ra giải pháp tháo gỡ kịp thời.

Tạo ra môi trường khuyến khích sự thử nghiệm: Trong thời kỳ chuyển đổi số, các tổ chức sẽ phải thay đổi phương thức làm việc, học tập, lao động sản xuất và tái cấu trúc năng lực của nhân sự để tương thích với những kỹ năng số, cũng như thử nghiệm phương thức mới để hoạt động một cách hiệu quả nhát. Do đó, các nhà lãnh đạo cần khuyến khích thử nghiệm, sẵn sàng làm gương và thay đổi trong toàn bộ tổ chức. Với vai trò là người đứng đầu, lãnh đạo còn là người truyền cảm hứng và xây dựng văn hóa chuyển đổi số trong tổ chức.

Sự thiếu nhạy bén của lãnh đạo trong chuyển đổi số có thể dẫn tới không ít sự thành công cũng như thất bại to lớn mà các doanh nghiệp hàng đầu trên Thế giới đã phải trải qua, điển hình trong số đó là bài học của Kodak, hãng sản xuất máy ảnh và phim máy ảnh hàng đầu nước Mỹ một thời. Kodak từng là cái tên nổi tiếng khắp toàn cầu, là niềm tự hào của nước Mỹ, với doanh thu kỷ lục từng đạt được là khoảng 20 tỉ USD. Đã từng có thời khi nói đến máy ảnh, nhiếp ảnh là nói đến Kodak. Thế nhưng, giờ đây công ty này đã phá sản vì nhiều lý do, trong đó lý do đáng kể nhất là sự chậm trễ thay đổi trong tư duy của các nhà lãnh đạo Kodak. Năm 1975, một kỹ sư trẻ của Kodak đã phát minh ra chiếc máy ảnh số, nhưng các nhà lãnh đạo của Kodak đã rất hờ hững và phản đối với lý do “Không ai muốn xem hình ảnh trên TV cả”. Bên cạnh đó, những nhà lãnh đạo của Kodak cũng sợ rằng phát minh này sẽ đánh đổ ngành công nghiệp film máy ảnh truyền thống mà họ đang thống trị. Nhưng Kodak không làm thì có người khác làm. Sự xuất hiện của iPhone vào năm 2007 và nền tảng mạng xã hội chia sẻ hình ảnh Instagram vào năm 2010 chính là những “giọt nước tràn ly” đẩy Kodak đến bờ vực phá sản vào năm 2012.

Trong khi đó, Fujifilm là đối thủ cạnh tranh của Kodak tại thị trường Nhật Bản cũng phải đố mặt với vấn đề thách thức tương tự, nhưng các nhà lãnh đạo của Fujifilm đã giúp công ty “vượt khó” thành công bằng cách phát triển khả năng thích ứng với công nghệ số. Công ty đã không chỉ đầu tư vào công nghệ số mà còn tạo ra những thay đổi căn bản trong mô hình kinh doanh bằng cách thu hẹp lực lượng lao động và tài sản kém hiệu quả, bắt đầu tập trung vào các lĩnh vực đầu tư mới như màn hình, máy chụp ảnh cao cấp… Chính ý chí chuyển mình quyết liệt và thích ứng nhanh chóng của với sự thay đổi của thị hiếu người tiêu dùng là những gì giúp công ty Nhật Bản này tiếp tục sống sót và phát triển mạnh mẽ trong thời đại kỹ thuật số, ngay cả khi đối thủ của họ là Kodak đã lui về quá khứ.

Câu chuyện nổi tiếng của Fujifilm cung cấp cho ta một ví dụ điển hình về sự thất bại và thành công trong chuyển đổi kỹ thuật số. Chuyển đổi không chỉ có nghĩa là chấp nhận các thay đổi mà còn là sự chủ động thay đổi một cách phù hợp để giảm thiểu thách thức, nắm bắt cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trong lịch sử hàng triệu năm của Trái Đất, sự tuyệt chủng hàng loạt và sự hình thành các loài sau đó diễn ra như một lẽ tự nhiên, do các tác nhân biến đổi là sự thay đổi về khí hậu hay điều kiện sống. Tương tự như vậy, hàng loạt doanh nghiệp bị phá sản vào những thập niên đầu của thế kỷ 21. Từ năm 2000 đến nay, 52% trong số các doanh nghiệp nằm trong bảng xếp hạng Fortune 500 (Fortune 500 là bảng xếp hạng 500 công ty lớn nhất Hoa Kỳ) đã bị mua lại, sáp nhập hoặc phá sản. Người ta ước tính rằng 40% các doanh nghiệp tồn tại ngày nay sẽ đóng cửa trong vòng 10 năm tới. Căn nguyên chính là do chậm hoặc thất bại trong việc chuyển đổi số. Tổ chức, cá nhân nào thực hiện cuộc chuyển đổi số thành công từ môi trường thực sang môi trường số sẽ có cơ hội để tồn tại và phát triển thịnh vượng.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; phát huy vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức về Chuyển đổi số

Người đứng đầu các cấp ủy trực tiếp chủ trì, lãnh đạo và chịu trách nhiệm thực hiện Chuyển đổi số trên địa bàn, lĩnh vực quản lý; lựa chọn mô hình thử nghiệm Chuyển đổi số toàn diện theo quy mô phù hợp. Quán triệt và chỉ đạo thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương về Chuyển đổi số; Chú trọng công tác tuyên truyền, quán triệt, học tập, nâng cao nhận thức của các cấp, ngành, cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và người dân nhận thức rõ tính cấp thiết, lợi ích của Chuyển đổi số để chủ động tham gia, hưởng ứng;

Chủ động, tiên phong, gương mẫu đi đầu, sáng tạo trong triển khai các giải pháp Chuyển đổi số gắn với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, đơn vị; trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phải gắn với công tác kiểm tra, giám sát.

Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên, người dân, doanh nghiệp tích cực tham gia; trong đó đoàn viên thanh niên là lực lượng xung kích thực hiện Chuyển đổi số.

Xây dựng cơ chế, chính sách; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy quá trình Chuyển đổi số

Phát huy hiệu quả hoạt động Ban chỉ đạo, Ban điều hành Chuyển đổi số từ cấp tỉnh đến cấp xã; chủ động rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, cụ thể hóa các quy định, hướng dẫn chuyên ngành để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ mới phát sinh trong tiến trình Chuyển đổi số, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia vào quá trình Chuyển đổi số, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo;

Tập trung xây dựng, ban hành các quy chế, quy định của tỉnh để hỗ trợ, thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp Chuyển đổi số, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân có đủ năng lực tham gia đầu tư các hạ tầng viễn thông và hạ tầng khác phục vụ Chuyển đổi số, xây dựng cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp, hộ dân quảng bá sản phẩm trên các sàn giao dịch điện tử uy tín trong và ngoài nước.

Chủ động liên kết với các doanh nghiệp, trường, viện, trung tâm nghiên cứu có uy tín để lựa chọn, đào tạo, tập huấn đội ngũ chuyên gia, nòng cốt về Chuyển đổi số. Đào tạo, tập huấn nâng cao nhận thức, kỹ năng cho cán bộ, công chức, viên chức, doanh nghiệp, người dân đáp ứng yêu cầu Chuyển đổi số.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nghệ thông tin hiện có của tỉnh, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu để trở thành các chuyên gia nòng cốt tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp về chuyển đổi số.

Có cơ chế, chính sách thu hút, tuyển dụng, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực CNTT vào các cơ quan, đơn vị để nâng cao chất lượng tham mưu, phục vụ Chuyển đổi số trên các lĩnh vực quan trọng.

Xây dựng, ban hành Bộ chỉ số đánh giá Chuyển đổi số của các Sở, ngành và huyện, thành phố. Thành lập đội ngũ chuyên gia Chuyển đổi số của tỉnh để tạo nòng cốt, lan tỏa Chuyển đổi số…

Phát triển hạ tầng kỹ thuật và đảm bảo an toàn an ninh thông tin

Hoàn thiện hệ thống hạ tầng thông tin theo nguyên tắc đảm bảo an toàn thông tin và tăng cường dùng chung hạ tầng; phát triển hạ tầng băng rộng chất lượng cao, phát triển hạ tầng mạng di động 4G, 5G, phổ cập điện thoại di động thông minh bắt đầu từ các khu tập trung đông dân cư, cơ quan, trường học, bệnh viện, đảm bảo kết nối, liên thông toàn tỉnh;

Tập trung phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, định danh và xác thực điện tử, triển khai kế hoạch ứng dụng địa chỉ giao thức Internet thế hệ mới (IPv6);

Xây dựng, phát triển nền tảng ứng dụng trên thiết bị di động cho các dịch vụ, tiện ích trong kinh tế số, xã hội số của tỉnh phục vụ cán bộ công chức, viên chức, người dân, doanh nghiệp khai thác, sử dụng.

Xây dựng, phát triển nền tảng số của tỉnh phục vụ Chuyển đổi số như: nền tảng điện toán đám mây, tích hợp dữ liệu, dữ liệu mở, phân tích dữ liệu, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, IoT,  định danh và xác thực điện tử, thương mại điện tử,…

Xây dựng và triển khai hệ thống giám sát an toàn thông tin, cảnh báo sớm nguy cơ, điều phối ứng cứu sự cố mất an toàn, an ninh mạng cho các cơ quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, tăng cường đội ngũ chuyên gia an toàn, an ninh mạng để kịp thời theo dõi, phòng ngừa, ngăn chặn, phối hợp xử lý, khắc phục các sự cố về an toàn, an ninh mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao; tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân nâng cao nhận thức tự bảo vệ mình trên môi trường số.

Xây dựng và phát triển chính quyền số

Hoàn thiện hạ tầng Trung tâm tích hợp dữ liệu theo hướng hiện đại, hệ thống thông tin dùng chung; Tái cấu trúc hạ tầng thông tin theo hướng kết hợp mạng truyền số liệu chuyên dùng với mạng Internet; bảo đảm hoạt động lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền trên môi trường số; đẩy mạnh họp trực tuyến, họp không giấy tờ, thực hiện triệt để làm việc trên môi trường mạng và ứng dụng chữ ký số... hướng tới chính quyền "không giấy tờ";

Nhanh chóng tái cấu trúc quy trình và cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trên thiết bị di động thông minh để phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đẩy mạnh triển khai hệ thống điều hành thông minh tỉnh Hà Giang;

Hoàn thiện Nền tảng chia sẻ, tích hợp dữ liệu của tỉnh và thực hiện kết nối liên thông với Nền tảng chia sẻ, tích hợp dữ liệu quốc gia và các bộ, ngành, địa phương;

Xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ công tác điều hành tác nghiệp, chỉ đạo điều hành dựa trên dữ liệu; đẩy mạnh số hóa dữ liệu; Xây dựng và triển khai hình thành kho dữ liệu số dùng chung tập trung của tỉnh để quản lý thống nhất việc lưu trữ, chia sẻ, trao đổi, bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng, phân tích và khai thác có hiệu quả các kho dữ liệu của tỉnh hình thành trong quá trình Chuyển đổi số.

Xây dựng cổng dữ liệu mở (Open Data) tỉnh quản trị dữ liệu số, công bố hiện trạng thông tin về dữ liệu số của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận, khai thác thông tin hình thành các dịch vụ thông tin gia tăng phục vụ người dân, doanh nghiệp; bảo đảm kết nối với Cổng dữ liệu số quốc gia

Xây dựng và phát triển kinh tế số

Tăng cường cung cấp thông tin, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số cải cách hành chính, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển;

Phát triển doanh nghiệp công nghệ số, sản phẩm nội dung số, truyền thông số, quảng cáo số; Đẩy mạnh Chuyển đổi số trong các doanh nghiệp nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp dựa trên cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư;

Phát triển hạ tầng chuyển phát, logistics và đổi mới mô hình kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử; triển khai Chuyển đổi số toàn diện ở cấp xã;

Đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, nhóm hộ gia đình tham gia các sàn thương mại điện tử lớn trong và ngoài nước nhằm thúc đẩy, tạo điều kiện mua bán sản phẩm, dịch vụ trên môi trường mạng. Ưu tiên hỗ trợ các sản phẩm xuất khẩu có thế mạnh, các sản phẩm chủ lực, đặc trưng, sản phẩm OCOP và các sản phẩm du lịch tiêu biểu của tỉnh.

Hỗ trợ các Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển kinh tế số và Chuyển đổi số bằng các chương trình tọa đàm phát triển kinh tế, hội chợ, triển lãm, xúc tiến đầu tư kết hợp với các Doanh nghiệp lớn và các hiệp hội.

Xây dựng và phát triển xã hội số

Triển khai áp dụng mô hình giáo dục trực tuyến, phổ biến kiến thức về an ninh mạng, kỹ năng bảo đảm an toàn thông tin tại các cấp học. Thực hiện đào tạo, tập huấn hướng nghiệp để học sinh có các kỹ năng sẵn sàng cho môi trường số; Nâng cao tỷ lệ các trường tiểu học, trung học cơ sở có dạy tin học trên địa bàn tỉnh.

Triển khai ứng dụng trên thiết bị di động làm nền tảng cho phép người dân và doanh nghiệp sử dụng mọi dịch vụ, tiện ích trong Chính phủ số, Kinh tế số, Xã hội số mọi lúc, mọi nơi; giúp người dân có thể lựa chọn dịch vụ phù hợp với nhu cầu như: sử dụng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ y tế, giáo dục, phản ánh hiện trường, cập nhật tin tức về đời sống văn hóa xã hội, lao động, việc làm; tin nóng về an ninh trật tự, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm; tình hình dịch bệnh, thiên tai…

Đánh giá tác động của công nghệ số và thực hiện các giải pháp chủ động giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của công nghệ số tới doanh nghiệp và người dân;

Tổ chức các Hội nghị, Hội thảo, Tọa đàm về Chuyển đổi số nhằm trao đổi kinh nghiệm, nâng cao nhận thức về Chuyển đổi số.

Mỗi năm lựa chọn 3 đến 5 xã trong vùng quy hoạch phát triển du lịch, nông nghiệp hàng hóa để hỗ trợ đẩy mạnh phát triển kinh tế số, xã hội số.

Đẩy mạnh thanh toán điện tử, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong thanh toán không tiền mặt trên địa bàn tỉnh.

Chuyển đổi số trong một số ngành, lĩnh vực

Chuyển đổi số trong một số ngành, lĩnh vực chú trọng tới việc triển khai các sáng kiến nhằm liên kết giữa các ngành, lĩnh vực để cung cấp trải nghiệm mới, tạo ra các giá trị đột phá bằng cách ứng dụng các công nghệ số để mang lại giá trị cho người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện ba đột phá Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII tỉnh Hà Giang. Các lĩnh vực cần tập trung Chuyển đổi số gồm: Y tế, Giáo dục, Du lịch, Nông nghiệp, Giao thông vận tải, Tài nguyên và Môi trường, logistics và thương mại điện tử.

Bảo đảm nguồn lực Chuyển đổi số

Huy động nguồn đầu tư của các tập đoàn viễn thông, doanh nghiệp, cộng đồng và các nguồn kinh phí hợp pháp khác nhằm phát triển hạ tầng viễn thông, internet hình thành hạ tầng số phục vụ tiến trình Chuyển đổi số;

Huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân thông qua các chính sách khuyến khích, thu hút doanh nghiệp công nghệ số đầu tư phát triển Chuyển đổi số;

Ưu tiên bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước hợp lý để phục vụ các nhiệm vụ, dự án Chuyển đổi số do cơ quan nhà nước chủ trì thực hiện, thông qua Kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn, hàng năm của tỉnh.

Để chuyển đổi số thành công, cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp cần quan tâm triển khai quyết liệt một số nhiệm vụ trọng tâm, cụ thể như sau:

Ban cán sự Đảng UBND tỉnh sớm hoàn thiện dự thảo, trình Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thông qua Nghị quyết về chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030. Đồng thời, nghiên cứu, ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện đảm bảo hiệu quả.

Các huyện ủy, thành ủy xây dựng Nghị quyết cấp ủy về công tác chuyển đổi số trên địa bàn huyện, thành phố mình và tổ chức triển khai hiệu quả.

Tập trung nguồn lực triển khai Chương trình Chuyển đổi số với Tập đoàn FPT, ưu tiên triển khai ngay các chương trình đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng chuyển đổi số cho trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý, đến tiên cán bộ, công chức, viên chức, người dân và doanh nghiệp. Huy động đoàn thanh niên là lực lượng tiên phong, giải tỏa, thúc đẩy chuyển đổi số.

Triển khai quyết liệt, mạnh mẽ công tác chuyển đổi số trong hoạt động cơ quan nhà nước, hoàn thiện chính quyền điện tử, hướng tới chính quyền số. Trong đó tập trung triệt để việc sử dụng hiệu quả chữ ký số, dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 trên địa bàn tỉnh.

Tập trung ứng dụng chuyển đổi số trong lĩnh vực ưu tiên nông nghiệp, thương mại, giao thông… Trong đó trọng tâm là chuyển đổi số trong tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm OCOP chất lượng của tỉnh trên các sàn thương mại điện tử.

Tập trung phát triển hạ tầng số rộng khắp, hiện đại, trong đó đặc biệt quan tâm phát triển hạ tầng viễn thông để phủ sóng điện thoại di động 4G, phổ cập điện thoại thông minh tới người dân. Thí điểm một số xã chuyển đổi số gắn với mô hình xã nông thôn mới.

Chuyển đổi số cần thực hiện ở 3 trụ cột: chính quyền số, kinh tế số, xã hội số. Tỉnh Hà Giang sẽ huy động tối đa nguồn lực cho chuyển đổi số tổng thể và toàn diện. Trong đó, đặc biệt ưu tiên xây dựng hệ thống chính quyền số để nâng cao năng lực quản lý, hiệu quả, hiệu lực hơn, minh bạch hơn, giảm tham nhũng. Kinh tế số thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tạo ra giá trị mới, giúp tăng năng suất lao động, tạo động lực tăng trưởng mới, thoát bẫy thu nhập trung bình. Xã hội số giúp người dân bình đẳng về cơ hội tiếp cận dịch vụ, đào tạo, tri thức, thu hẹp khoảng cách phát triển, giảm bất bình đẳng.

Chuyển đổi số mở ra cơ hội cho tất cả tổ chức, cá nhân. Tỉnh Hà Giang có thể tận dụng cơ hội này để tỉnh Hà Giang và mỗi người dân cùng vươn lên, khẳng định mình và thay đổi vị thế. Chuyển đổi số cũng là cơ hội để chúng ta có thể thay đổi chính mình trong vòng một vài thập kỷ tới. Nếu bỏ lỡ cơ hội này, tỉnh Hà Giang khó có thể thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn như hiện nay.

Đồng chí Đặng Quốc Khánh (Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy)

.