Quốc hội thảo luận, sửa đổi, bổ sung và thông qua một số Dự án luật

Thứ Sáu, 22/11/2019, 16:31 (GMT+7)

*Sáng 22/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều.

Thảo luận tại hội trường, các đại biểu đều tán thành với sự cần thiết ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều.

Đại biểu Nguyễn Lâm Thành – Đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn, đề nghị bổ sung tiếp cận rộng hơn, đầy đủ hơn đặc biệt là liên quan đến biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng phức tạp với nhiều loại hình và tần suất khó lường. Đồng thời bổ sung quy định ứng phó với các loại hình thiên tai như hạn hán, rét đậm, sương muối cho phù hợp với thực tiễn thay vì chỉ tập trung ở vấn đề mưa lũ.

Quốc hội thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều
Quốc hội thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều

Đại biểu Nguyễn Thị Mai Phương – Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai, cho rằng một số chính sách trong Tờ trình chưa có trong đề nghị xây dựng dự án Luật như chính sách về bảo đảm yêu cầu về phòng, chống thiên tai với việc đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp khu du lịch, khu công nghiệp; chế độ sử dụng, xử lý công trình xây dựng tại bãi nổi, cù lao; điều kiện phải có văn bản chấp thuận khi cấp giấy phép nẹo vét luồng, lạch trong phạm vi bảo vệ đê điều. Do đó cần phải rà sóa đánh giá tác động kỹ quy định này để bảo đảm thống nhất hệ thống pháp luật, bảo vệ quyền lợi của người dân.

Bổ sung chính sách bảo đảm phòng, chống thiên tai hiệu quả

Về các nội dung của dự thảo Luật, đại biểu Lê Quang Trí – Đoàn ĐBQH tỉnh Tiền Giang, thống nhất với việc bổ sung quy định ưu tiên bố trí nguồn lực xây dụng triển khai các chương trình trình khoa học công nghệ trong phòng, chống thiên tai. Đại biểu chỉ rõ công tác phòng chống thiên tai thời gian qua có những hạn chế do công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ chưa được đầu tư thích đáng. Tình trạng sạt lờ bở biển nghiêm trọng ở đồng bằng sông Cửu Long hay sụt lún ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long rất cần có chương trình nghiên cứu, giải pháp xử lý hiệu quả, bảo đảm phát triển bền vững. Đại biểu nhấn mạnh đây là chính sách quan trọng giúp cho công tác phòng, chống thiên tai kịp thời, hiệu quả.

Đại biểu cũng đề nghị bổ sung chính sách về về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trong phòng chống thiên tai bởi phòng, chống thiên tai là công tác khó và phức tạp đối với nước ta trong khi trên thế giới có nhiều nước có kinh nghiệm về vấn đề này như Nhật Bản, Philippin.

Thống nhất với quy định về chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, nâng cao năng lực cho người làm công tác phòng, chống thiên tai trong dự thảo Luật, song trong các điều khoản về thông tin truyền thông, giáo dục và trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ lại chưa thể hiện nội dung này. Do đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về đào tạo, tập huấn công tác phòng, chống thiên tai và xác định rõ đối tượng nào được đào tạo và đối tượng nào cần được tập huấn.

Bên cạnh đó, đại biểu Lê Quang Trí cũng đề nghị bổ sung quy định về bảo hiểm rủi ro thiên tai cho các công trình tài sản cho người dân trong vùng có nguy cơ cao thiên tai. Đại biểu nhấn mạnh, Việt Nam là nước bị ảnh hưởng nặng nề của biến đối khí hậu nên việc xây dựng và bảo vệ các công trình phòng, chống thiên tai và kết hợp phòng, chống thiên tai là rất cần thiết. Tuy nhiên trong bối cảnh nguồn lực có hạn nên cần tập trung cho các công trình cấp thiết nhất như trong giai đoạn hiện nay rất cần các công trình ao hồ điều tiết nước cho đồng bằng sông Cửu Long nhằm ứng phó hạn hán, chống ngập lụt, chủ động nguồn nước tưới và sinh hoạt, không bị động bởi nguồn nước từ các đập trên sông Mê Kông. Do đó, cần nghiên cứu bổ sung điều khoản về các công trình phòng, chống thiên tai cần ưu tiên đầu tư và giao Chính phủ quy định chi tiết.

Đại biểu Nguyễn Lâm Thành đề nghị bổ sung quy định về cơ chế đặc thù đối với một số hoạt động liên quan đến khôi phục, sửa chửa các công trình hoặc xử lý phòng, chống thiên tai quy mô nhỏ trong trường hợp khẩn cấp.

Cân nhắc việc thành lập Quỹ Phòng, chống thiên tai ở Trung ương

Tán thành với việc thành lập Quỹ Phòng, chống thiên tai ở Trung ương trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, song đại biểu Phạm Văn Hòa – Đoàn ĐQBH tỉnh Đồng Tháp, cũng lưu ý qua giám sát về các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách đã phát hiện nhiều tổ chức sử dụng quỹ phức tạp, thu chi khó kiểm soát nên cần có quy định chặt chẽ để không phát sinh thất thoát, lãng phí, tiêu cực.

Còn đại biểu Nguyễn Lâm Thành đề nghị cần cân nhắc đối với việc thành lập quỹ này, cần xem xét có chồng chéo với nhiệm vụ của Hội Chữ thập đỏ là đầu mối trong quản lý, tiếp nhận nguồn viện trợ nhân đạo. Đại biểu đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa Quỹ này và Hội Chữ thập đỏ, nguyên tắc trong mối quan hệ với quỹ địa phương, cần thiết có cơ chế điều hòa giữa trung ương với địa phương.

Đại biểu Nguyễn Thị Mai Phương – Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai, phản ánh nguồn thu của quỹ phòng, chống thiên tai ở địa phương phụ thuộc nhiều vào sự đóng góp của người dân, doanh nghiệp của địa phương. Do đó, bằng một mệnh lệnh hành chính mà điều chuyển quỹ của địa phương về quỹ trung ương là chưa hợp lý.

Ngoài ra, tại phiên họp, các đại biểu cũng quan tâm cho ý kiến về việc lực lượng nòng cốt trong phòng, chống thiên tai; công tác dự báo, cảnh báo thiên tai; công tác điều tra cơ bản...

Kết luận nội dung thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho biết, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ chỉ đạo các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật để trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 9.

*Chiều 22/11, Quốc hội nghe giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam trước khi tiến hành biểu quyết. Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ điều hành nội dung làm việc.

Trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Võ Trọng Việt cho biết, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV, các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại Hội trường về dự thảo Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam. Trên cơ sở ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Cơ quan chủ trì thẩm tra, Cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội kết quả cụ thể như sau:

Về nguyên tắc xuất cảnh, nhập cảnh, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải trình như sau: Việc quy định nguyên tắc trong Luật này vừa phù hợp với hoạt động quản lý, kiểm soát xuất nhập cảnh và hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam. Về thời hạn thực hiện các thủ tục cấp, gia hạn, thu hồi, hủy giá trị sử dụng của các loại giấy tờ xuất nhập cảnh đã được quy định cụ thể trong dự thảo Luật cơ bản đáp ứng yêu cầu kịp thời và nhanh chóng như ý kiến đại biểu Quốc hội nêu. Thỏa thuận quốc tế là cam kết bằng văn bản về hợp tác quốc tế được ký kết nhân danh cơ quan nhà nước , nhưng không nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ; pháp luật nước sở tại không phải là điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên nên đều không có giá trị bắt buộc Luật này phải tuân thủ khi có quy định trái với thỏa thuận quốc tế hoặc pháp luật nước sở tại, đề nghị Quốc hội cho giữ nguyên như dự thảo Luật.

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Võ Trọng Việt báo cáo
Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Võ Trọng Việt báo cáo

Về các hành vi bị nghiêm cấm, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy với tên Luật và phạm vi điều chỉnh của Luật này chỉ liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam nên không cần thiết phải bổ sung cụm từ “trong xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam” vào tên Điều này. Hành vi “cung cấp thông tin sai sự thật để được cấp, gia hạn, khôi phục hoặc báo mất giấy tờ xuất nhập cảnh” tùy theo mức độ có thể bị xử lý vi phạm hành chính gắn với hậu quả pháp lý là chưa cấp giấy tờ xuất nhập cảnh, nên cần thiết phải căn cứ vào ý thức chủ quan “cố ý” vi phạm của người làm thủ tục để cấm, nếu không sẽ ảnh hưởng nhiều đến quyền công dân trong hoạt động này. Trường hợp tự đặt thêm “các khoản thu khác” hoặc “chậm trễ, trì hoãn, từ chối không giải quyết thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh” đã thuộc quy định cấm tại khoản 8 Điều này. Đối với hành vi vi phạm điều cấm, tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả sẽ bị xử lý hình sự, xử lý hành chính theo các quy định của pháp luật có liên quan, nên không bổ sung quy định trong Luật này.

Về đối tượng cấp hộ chiếu ngoại giao, đối tượng cấp hộ chiếu công vụ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tán thành với ý kiến cho rằng quy định về đối tượng đi theo, đi thăm tại khoản 14 Điều 8, khoản 5 Điều 9 là chưa thống nhất với giải thích các từ ngữ có liên quan tại khoản 4 và khoản 5 Điều 2 nên đã cho lược bỏ giải thích các từ ngữ này. Đối với các ý kiến khác, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giải trình như sau: Tại khoản 4 Điều 8 quy định chung “người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan do Chính phủ thành lập” là phù hợp, bảo đảm tính bao quát và đầy đủ. Đối với Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh ủy, thành ủy thành phố trực thuộc Trung ương (trung bình mỗi địa phương có khoảng 14 người) nếu được cấp hộ chiếu ngoại giao sẽ dẫn đến mất công bằng với các bộ, cơ quan ngang bộ (có khoảng 06 người được cấp) và phá vỡ cơ cấu thành phần đối tượng cấp hộ chiếu ngoại giao. Nếu bổ sung đối tượng trên, để bảo đảm công bằng thì cần phải bổ sung đối tượng là Ủy biên Ban thường vụ, Ủy viên Ban cán sự Đảng của các bộ, cơ quan ngang bộ; Ủy viên các cơ quan thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cơ quan khác do Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng thành lập… sẽ làm gia tăng số lượng hộ chiếu ngoại giao, làm giảm giá trị của cuốn hộ chiếu này trên trường quốc tế và làm ảnh hưởng đến các hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Về các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải trình như sau: Hiện nay, trong hệ thống pháp luật đang sử dụng thiếu thống nhất các cụm từ “cấm xuất cảnh” (Bộ luật Tố tụng Dân sự), “không được xuất cảnh” (Luật Thi hành án hình sự) và “tạm hoãn xuất cảnh” (Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Quản lý thuế). Về bản chất, các trường hợp “tạm hoãn xuất cảnh”, “cấm xuất cảnh”, “không được xuất cảnh” trong các đạo luật chuyên ngành đều là việc dừng, không cho xuất cảnh có thời hạn. Luật này là luật chuyên ngành về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, nên việc quy định đầy đủ các trường hợp dừng, không cho xuất cảnh có thời hạn đối với công dân Việt Nam trong Luật này là cần thiết. Nếu không quy định trong Luật này 03 đối tượng không được xuất cảnh theo quy định của Luật Thi hành án hình sự có thể dẫn đến cách hiểu là do Luật này ban hành sau có giá trị áp dụng so với Luật Thi hành án hình sự năm 2019 nên trong lĩnh vực thi hành án hình sự sẽ không còn 03 đối tượng bị tạm hoãn xuất cảnh nêu trên. Do đó, UBTVQH đề nghị giữ lại 03 trường hợp không được xuất cảnh theo quy định của Luật Thi hành án hình sự; đồng thời, cho bổ sung vào giải thích tại khoản 7 Điều 2 đối với từ ngữ “Tạm hoãn xuất cảnh” để bao quát cả các trường hợp “tạm hoãn xuất cảnh”, “cấm xuất cảnh”, “không được xuất cảnh” đã được quy định trong các đạo luật chuyên ngành khác và bảo đảm thống nhất giữa giải thích từ ngữ này với Điều 36 của dự thảo Luật.

*Chiều cùng ngày, Quốc hội biểu quyết thông qua dự án Luật Dân quân tự vệ (sửa đổi) với tỷ lệ 91,72% số phiếu tán thành.

Dự án Luật Dân quân tự vệ (sửa đổi) gồm 8 chương, 50 điều. Kết quả, có 443/446 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết (chiếm 91,72%) đã tán thành thông qua dự án Luật Dân quân tự vệ (sửa đổi). Trong số các đại biểu tham gia biểu quyết, có 1 đại biểu không tán thành (chiếm 0,21%), 2 đại biểu không biểu quyết thông dự án luật (chiếm 0,41%).

Trước đó, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Võ Trọng Việt trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Dân quân tự vệ (sửa đổi).

Kết quả biểu quyết có 443 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành thông qua Dự án Luật Dân quân tự vệ (sửa đổi), chiếm tỷ lệ 91,72%.
Kết quả biểu quyết có 443 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành thông qua Dự án Luật Dân quân tự vệ (sửa đổi), chiếm tỷ lệ 91,72%.

Theo đó, ngày 28/10/2019, các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại hội trường về dự án Luật Dân quân tự vệ (sửa đổi). Một trong những nội dung được các đại biểu Quốc hội quan tâm là về tạm hoãn, miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ trong thời bình (Điều 11).

Theo báo cáo giải trình, tiếp thu dự án Luật Dân quân tự vệ (sửa đổi), có ý kiến đề nghị bổ sung đối tượng được tạm hoãn là hộ cận nghèo để tạo điều kiện phát triển kinh tế, tránh nguy cơ xuống hộ nghèo. Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã chỉnh lý như dự thảo Luật.

Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định sau khi hết điều kiện tạm hoãn thì công dân phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ.

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thấy rằng, dự án Luật chỉ quy định điều kiện tạm hoãn cho từng trường hợp cụ thể; khi không còn đáp ứng điều kiện này thì công dân trong độ tuổi phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ.

Có ý kiến đề nghị cân nhắc quy định vợ hoặc chồng của người bị nhiễm chất độc da cam, suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được tạm hoãn tại điểm b khoản 2, vì họ thường đã trên 60 tuổi.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội thấy rằng, thực tế vẫn có nhiều công dân bị nhiễm chất độc da cam do hậu quả chiến tranh để lại hoặc di chứng sang các thế hệ sau. Do đó, để bảo đảm công bằng, đề nghị Quốc hội cho giữ như dự án Luật.

Về thôi thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ trước thời hạn, đưa ra khỏi danh sách Dân quân tự vệ (Điều 12), có ý kiến đề nghị bổ sung chính sách đối với nữ dân quân mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ khi đang thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội thấy rằng, dự thảo Luật quy định đối tượng trên được thôi thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ trước thời hạn nhằm tạo điều kiện cho công dân có đủ sức khỏe để chăm sóc gia đình, nuôi dưỡng con cái. Mặt khác, hằng năm dân quân tự vệ (trừ dân quân thường trực) thời gian làm nhiệm vụ không nhiều, trung bình từ 20 đến 25 ngày. Đối với dân quân thường trực, tự vệ và các chức vụ trong Ban chỉ huy quân sự cấp xã, cơ quan, tổ chức đã được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Vì vậy, đề nghị Quốc hội không bổ sung chính sách này cho đối tượng trên.

Có ý kiến đề nghị tại điểm d khoản 2 chỉ nên quy định chung là đưa ra khỏi danh sách dân quân tự vệ trong trường hợp nghiện ma túy cho chặt chẽ, để bảo đảm quyền con người, quyền của công dân và nâng cao chất lượng dân quân tự vệ.

Trên cơ sở ý kiến đại biểu Quốc hội, để bảo đảm chặt chẽ hơn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã bổ sung và chỉnh lý điểm này như sau: “Nghiện ma túy theo xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.

Về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp (Điều 44), có ý kiến đề nghị bổ sung trách nhiệm của Hội đồng nhân dân các cấp trong đảm bảo nguồn lực, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về dân quân tự vệ và phù hợp với nhiệm vụ chi quy định tại khoản 2 Điều 38. Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã chỉnh lý Điều này như dự án Luật.

Ngoài ra, các vấn đề trên, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã rà soát và đề nghị Quốc hội cho chỉnh lý nhiều nội dung khác của dự thảo Luật, phù hợp về thể thức văn bản, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và tính khả thi.

Dự án Luật Dân quân tự vệ (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020.

Theo: quochoi.vn

.