Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tôn giáo, tín ngưỡng

Thứ Hai, 21/05/2018, 11:04 (GMT+7)

BHG - Tự do tôn giáo, tín ngưỡng là nội dung đặc sắc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hóa. Hiếm có một lãnh đạo nào xem tôn giáo, tín ngưỡng dưới góc nhìn đạo đức như Bác Hồ.

Tôn giáo là đạo đức, mà đạo đức nằm trong văn hóa. Với góc nhìn sâu rộng như vậy nên tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Bác đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có nhiệm vụ về tự do tôn giáo, tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo, xây dựng chế độ mới, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Quan điểm “Tự do tôn giáo, tín ngưỡng” của Bác có nghĩa là tự do có đạo hay tự do không có đạo. Người không chỉ có lý thuyết mà còn ứng xử với các nhà tu hành chuyên nghiệp, giáo dân, phật tử theo đạo với một lòng thành kính và tính thuyết phục rất lớn.

 

 

Một trong những câu chuyện cảm động nhất là giữa Bác với linh mục Phạm Bá Trực, người theo đạo Thiên chúa, yêu nước, thương dân, có uy tín trong xã hội. Vì vậy, Bác và Đảng ta đã tín nhiệm, bố trí linh mục Phạm Bá Trực là Phó Chủ tịch Quốc hội. Trong một phiên họp bàn về chiến sự của đất nước, họp xong đã rất khuya, đường về xa nên Bác gặp linh mục Phạm Bá Trực và nói: Thưa cha, bây giờ khuya quá rồi, xin cha nghỉ lại đây đêm nay, ngày mai có người đưa cha về sớm cho an toàn. Linh mục Phạm Bá Trực xúc động đến mức không thể đứng nổi, không tin một lãnh tụ như Bác lại đối xử tôn trọng, tình cảm và chân thành như vậy. Đêm đó, linh mục không ngủ, nhìn sang phòng Bác vẫn sáng đèn, nghe tiếng lách cách của máy chữ, ông biết Bác vẫn còn làm việc. Tiến gần cửa phòng Bác, linh mục Phạm Bá Trực nói to: Ngài quả là một vị thánh. Nghe tiếng linh mục, Bác dừng bút làm việc và trả lời: Ở đây, cả tôi và ngài không ai là thánh thần cả, chúng ta là những con người, vì việc lớn mà chúng ta phải hy sinh. Ngài chăm sóc phần hồn các con chiên, còn chúng tôi làm cách mạng lo cơm ăn, áo mặc, độc lập, tự do cho đồng bào. Khi ấy, phần xác no đủ, phần hồn mới thong dong được… Bác của chúng ta là như vậy, kính Chúa, yêu nước; đẹp đời, tốt đạo; đạo pháp dân tộc đồng hành cùng chủ nghĩa xã hội là những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, nó phản ánh nhân văn, cách mạng của Bác trong ứng xử với tôn giáo.

Một người nữa cũng theo đạo Thiên chúa là cụ Ngô Tử Hạ, một người được xếp vào hàng khai quốc, công thần của chế độ mới. Lịch sử nhớ lại cuộc bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên năm 1946, khi ấy cụ Ngô Tử Hạ là một điền chủ, đồng thời là một chủ nhà in lớn ở Ninh Bình, có tấm lòng yêu nước, thương dân, ảnh hưởng từ Bác để theo cách mạng, đi làm kháng chiến. Ngày hội bầu cử đầu tiên đó, cụ kéo xe bò, đội khăn vòng quanh phố Tràng Tiền kêu gọi người dân góp gạo, cứu tế và xây dựng chế độ ta. Theo lời kêu gọi của Bác cũng như những khẩu hiệu tuyên truyền của cụ khi kéo xe bò, người dân ai cũng ủng hộ lương thực, thực phẩm. Khi xe bò đã đầy ắp ngô, khoai, gạo thì nhiều thanh niên ra giúp cụ kéo xe về trước Nhà hát lớn, nơi bỏ phiếu bầu cử. Khi xe về đến nơi, Bác đến ôm cụ và nói, “Đây mới là gạo đại đoàn kết”, nó thể hiện sự đoàn kết của nhân dân, đoàn kết trong cả công giáo và lương giáo.

Một người đứng đầu Đảng, Nhà nước như Bác không bao giờ quên gửi thư chúc mừng các giáo dân theo đạo Thiên chúa trong ngày Noel. Mỗi lần gửi thư chúc mừng giáo dân, Bác đều kết thúc bằng một câu “Cầu chúa ban phúc lành cho chúng ta, ủng hộ chúng ta kháng chiến cứu quốc đến ngày thắng lợi”. Ngược lịch sử, chúng ta cũng đều biết đích thân Bác đã vẽ tượng phật trên núi ở Pắc Pó (Cao Bằng); ở Thái Lan, Bác đã từng mặc áo cà sa đi khất thực, Bác ngủ trong nhà chùa với phật tử… Đó là cách làm dân vận của Bác để đoàn kết lương và giáo, giữa tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng. Bác còn chỉ đạo Chính phủ, Quốc hội đưa việc “Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo” vào Hiến pháp.

Những quan điểm, câu chuyện của Bác nêu trên cho chúng thấy Bác là người Cộng sản hiện đại, thể hiện rất tinh tế và sâu sắc, những tình cảm, tư tưởng về tôn giáo đều hướng tới mục đích cao cả là phục vụ cách mạng, phục vụ lợi ích của nhân dân.

Gs, Ts Hoàng Chí Bảo (kể)

Lê Lâm (ghi)

.